Bệnh sởi và những điều cần biết

0
284
Hình ảnh minh họa trẻ bị bệnh sởi

Sởi là bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm thường gặp ở trẻ em. Thời điểm chưa có vắc xin, bệnh sởi là nguyên nhân gây ra hàng triệu ca tử vong mỗi năm. Đến nay mặc dù tỷ lệ mắc bệnh đã giảm mạnh như triển khai chương trình tiêm chủng nhưng sởi vẫn được xem là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, thậm chí bùng phát thành dịch ở nhiều nơi trên thế giới.  

Bệnh sởi là gì?

Sỏi là bệnh truyền nhiễm cấp tính lây qua đường hô hấp do virus sởi gây ra và rất dễ bùng phát thành dịch. Đối tượng mắc bệnh sởi khá rộng có thể là trẻ em, người lớn hay phụ nữ mang thai nếu chưa được tiêm phòng sởi hoặc đã tiêm phòng nhưng chưa tiêm đủ liều. Hơn 90% số người trước 20 tuổi đã từng mắc bệnh sởi. Thời điểm chưa có vacxin ước tính mỗi năm có khoảng 100 triệu trường hợp mắc và 6 triệu người tử vong do sởi.

Bệnh sởi xảy ra ra quanh năm nhưng có thể bùng phát thành dịch vào những tháng đông – xuân, khí hậu ẩm thấp cũng là môi trường thuận lợi cho bệnh sởi lây lan. Tại Việt Nam, với việc thực hiện tiêm vacxin phòng sởi trong chương trình tiêm chủng mở rộng từ năm 1985 đã giúp giảm đáng kể tỷ lệ mắc bệnh sởi. Tuy nhiên cũng không thể chủ quan với bệnh sởi vì đến nay vẫn còn xuất hiện các đợt dịch sởi với quy mô nhỏ ở nhiều địa phương trên cả nước. 

Bệnh sởi là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm do virus sởi gây ra và rất dễ bùng phát thành dịch
Bệnh sởi là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm do virus sởi gây ra và rất dễ bùng phát thành dịch

Tác nhân gây bệnh

Tác nhân gây bệnh sởi là virus sởi (Polynosa morbillorum) thuộc giống Morbillivirus, thuộc họ Paramyxoviridae. Virus sởi có dạng hình cầu đường kính khoảng 100-250 nm và chỉ có một kháng nguyên duy nhất.

Virus sởi tồn tại ở họng và máu bệnh nhân từ cuối thời kỳ ủ bệnh đến sau khi phát ban một thời gian ngắn. Ở môi trường ngoài virus chịu đựng kém và thường chết trong vòng 30 phút, dễ bị bất hoạt bởi các hóa chất sát trùng thông thường. 

Cơ chế bệnh sinh của sởi

– Virus sởi xâm nhập vào cơ thể theo đường hô hấp, sau đó nhiễm vào máu, thời kỳ này tương đương với thời gian ủ bệnh trên lâm sàng.

– Từ máu, theo các bạch cầu, virus đến các cơ quan như phổi, lách, hạch bạch huyết, da, kết mạc mắt… gây tổn thương các cơ quan này và gây nên triệu chứng lâm sàng trong thời kỳ toàn phát. Phát ban ở da và niêm mạc chính là hiện tượng đào thải virus và phản ứng miễn dịch của cơ thể. 

– Từ ngày thứ 2 – 3 kể từ lúc phát ban, cơ thể sản sinh kháng thể để trung hòa virus. Bệnh chuyển sang giai đoạn lui bệnh. Ban nhạt dần, bong vảy trắng và sức khỏe hồi phục dần. 

Virus sởi (Polynosa morbillorum) - tác nhận gây bệnh sởi
Virus sởi (Polynosa morbillorum) – tác nhận gây bệnh sởi

Bệnh sởi có lây không?

Bệnh sởi có tốc độ lây truyền rất cao vì thế rất dễ bùng phát thành dịch. Một người mắc bệnh có thể lây nhiễm cho khoảng 20 người khác, đặc biệt nếu trong điều kiện sống trong không gian khép kín thì hầu hết những người chưa có miễn dịch đều có thể bị bệnh. 

Bệnh sởi lây trực tiếp từ người sang người qua đường hô hấp khi hít phải các hạt dịch tiết từ mũi họng của người bệnh trong không khí lúc họ ho, hắt hơi hoặc lây gián tiếp qua những đồ vật mới bị nhiễm các chất tiết từ mũi họng của người bệnh. 

Virus sởi có trong hàng triệu hạt dịch tiết từ mũi và miệng của người bệnh khuếch tán ra không khí mỗi khi họ ho hoặc hắt hơi. Bạn có thể dễ dàng bị lây nhiễm bệnh sởi khi hít phải các hạt này. Bạn cũng có thể nhiễm sởi nếu như để tay mình tiếp xúc với một bề mặt đã có nhiều virus sởi rồi sau đó đưa tay lên miệng hoặc mũi. Khi đã xâm nhập vào cơ thể, virus sởi sẽ nhanh chóng sinh sôi nảy nở trong vòm họng và trong phổi trước khi lây lan ra toàn bộ cơ thể.

Thời kỳ ủ bệnh thường từ 12 – 14 ngày nhưng có thể kéo dài đến 21 ngày. Những người mắc bệnh sởi có khả năng lây bệnh cho người khác trong thời gian từ 1 ngày trước khi bắt đầu có triệu chứng (thường là 4 ngày trước khi phát ban) cho đến thời điểm 4 ngày sau khi vết ban đầu tiên xuất hiện. Virus sởi trong vacxin không có khả năng lây truyền. 

Những ai dễ mắc bệnh sởi?

Tất cả những người chưa mắc bệnh sởi hoặc chưa tiêm phòng vacxin sởi đều có khả năng mắc bệnh. Nhóm đối tượng có nguy cơ cao mắc sởi gồm: 

– Trẻ nhỏ, trẻ nhũ nhi rất dễ bị nhiễm bệnh khi tiếp xúc với nguồn lây nếu chưa được tiêm phòng vacxin hoặc tiêm chưa đủ mũi. Trẻ nhỏ dưới 6 tháng tuổi ít bị bệnh hơn do có kháng thể thụ động của người mẹ (đã được gây miễn dịch bằng vacxin sởi) truyền cho nhưng kháng thể chỉ ở mức độ thấp và trẻ vẫn còn cảm nhiễm với bệnh sởi.

– Người lớn hiếm khi mắc bệnh vì đã mắc bệnh từ bé và đã hình thành miễn dịch tự nhiên. Những trường hợp mắc bệnh sởi ở người lớn có thể là những người nước ngoài đến du lịch ở các quốc gia đang phát triển – nơi bệnh sởi đang xảy ra phổ biến hoặc người ở vùng cao, hẻo lánh, đảo xa… từ nhỏ chưa tiếp xúc với virus sởi. 

– Phụ nữ mang thai cũng là đối tượng có nguy cơ cao mắc sởi nếu chưa có miễn dịch đầy đủ vì thời điểm này sức đề kháng của mẹ kém đi nên dễ bị nhiễm virus, nhất là trong thời điểm có dịch. 

Sau khi mắc bệnh sởi tự nhiên sẽ hình thành miễn dịch bền vững với bệnh, vì vậy rất hiếm khi mắc lại lần thứ hai. 

Trẻ em là đối tượng có nguy cơ cao mắc bệnh sởi
Trẻ em là đối tượng có nguy cơ cao mắc bệnh sởi

Triệu chứng bệnh sởi?

Triệu chứng bệnh sởi có một số điểm khác nhau tùy theo các thể bệnh điển hình, thể không điển hình hay mức độ nặng – nhẹ. 

Bệnh sởi thể điển hình (mức độ vừa)

– Giai đoạn ủ bệnh: Khoảng 10 – 14 ngày.

Giai đoạn khởi phát: khoảng 2 – 4 ngày. 

Bệnh nhân sốt cao, viêm long đường hô hấp trên và viêm kết mạc, đôi khi có viêm thanh quản cấp. 

Nội ban xuất hiện vào khoảng ngày thứ 2 gọi là các hạt Koplik – các hạt nhỏ 0,5-1 mm, màu trắng có quầng ban đỏ từ vài nốt đến vài chục, vài trăm nốt mọc ở niêm mạc má (phía trong miệng, ngang răng hàm). Các hạt Koplik chỉ tồn tại trong 24 – 48h nhưng có giá trị chẩn đoán sớm và tính chính xác cao. 

Giai đoạn toàn phát (giai đoạn phát ban) Kéo dài 2 – 5 ngày. 

Thường sau khi sốt cao 3-4 ngày bệnh nhân bắt đầu phát ban. Ban dát sẩn, dạng nhỏ hơi nồi gờ trên mặt da, xen kẽ các ban dát màu hồng. Ban mọc rải rác hoặc dính liền với nhau thành từng đám tròn 3 – 6 mm, xen giữa các vùng da lành, khi kéo căng da thì ban biến mất. Ban mọc theo thứ tự: 

  • Ngày thứ 1: Mọc ở sau tai, lan ra mặt
  • Ngày thứ 2: Lan xuống ngực, tay
  • Ngày thứ 3: Lan đến lưng, chân

Ban thường kéo dài trong khoảng 5 – 6 ngày rồi bay theo thứ tự đã mọc. Khi ban bắt đầu mọc, thân nhiệt tăng, sốt cao hơn, người mệt hơn. Khi ban mọc đến chân thì giảm sốt, bước vào giai đoạn hồi phục. 

Giai đoạn hồi phục (giai đoạn ban bay): Thường vào ngày thứ 6 – 7 ban bắt đầu bay.

Ban bay lần lượt theo thứ tự đã mọc, để lại các vết thâm tróc vảy trên da, dạng mịn như bụi phấn hay bụi cám. Những chỗ da thâm của ban bay và chỗ da bình thường tạo nên các vệt màu da loang lổ gọi là  dấu hiệu “vằn da hổ” – dấu hiệu đặc trưng của bệnh. 

Sau khi ban bay thì người bệnh dần hồi phục sức khỏe và khỏi bệnh nếu không xuất hiện biến chứng. Có thể còn ho kéo dài 1 – 2 tuần sau khi hết ban. 

Sốt cao, ho , đau họng, phát ban... là những triệu chứng thưởng gặp của bệnh sởi
Sốt cao, ho , đau họng, phát ban… là những triệu chứng thưởng gặp của bệnh sởi

Bệnh sởi thể không điển hình

– Biểu hiện lâm sàng có thể sốt nhẹ thoáng qua, viêm họng nhẹ và phát ban ít, toàn trạng tốt. Thể này dễ bị bỏ qua, dẫn đến lây lan bệnh mà không biết.

– Hay gặp ở trẻ dưới 6 tháng tuổi (do vẫn còn miễn dịch của mẹ) hoặc ở những người đã được tiêm phòng. 

Chú ý khi đánh giá mức độ nặng nhẹ của bệnh sởi thường căn cứ vào hội chứng nhiễm khuẩn, nhiễm độc toàn thân không nên chỉ dựa vào ban thì hiện tượng phát ban không điển hình có thể dạng thể nhẹ nhưng cũng có thể gặp ở thể nặng khi trẻ suy dinh dưỡng, miễn dịch kém. Ngược lại không phải phát ban dày là nặng vì có thể gặp ở trẻ dinh dưỡng tốt, đáp ứng miễn dịch tốt. 

Bệnh sởi thể ác tính (mức độ nặng)

Các dấu hiệu có thể sởi ác tính thường xuất hiện nhanh chóng sau vài giờ vào cuối giai đoạn khởi phát trước lúc mọc ban, ở những cơ địa quá mẫn. Triệu chứng thường gặp bao gồm: sốt cao đến 39 – 40 độ C, vật vã, mê sảng, co giật, hôn mê, mạch nhanh, huyết áp tụt, nôn, ỉa chảy, đái ít, xuất huyết dưới da hay phủ tạng. 

– Sởi ác tính thể xuất huyết: gây xuất huyết dưới da hoặc nội tạng

– Sởi ác tính thể phế quản – phổi: gây suy hô hấp

– Sởi ác tính thể nhiễm độc nặng: sốt cao, vật vã, o giật mạnh, hôn mê, mạch nhanh nhỏ, huyết áp tụt.

– Sởi ác tính thể ỉa chảy: Rối loạn tiêu hoá nổi bật.

– Sởi ác tính thể bụng cấp: Giống viêm ruột thừa thường gặp ở trẻ từ 6 tháng đến 2 tuổi, trẻ suy dinh dưỡng hoặc còi xương, suy giảm miễn dịch, trẻ đang mắc các bệnh khác…

Bệnh sởi có nguy hiểm không?

Bệnh sởi có ngoài các dấu hiệu thông thường như sốt cao, sổ mũi, ho, đau họng, nổi ban… thì đáng sợ nhất khi mắc sởi là biến chứng nguy hiểm của bệnh. Thống kê cho thấy trong tổng số trẻ bị nhiễm bệnh thì có đến 30% trẻ sẽ có nguy cơ mắc phải các biến chứng khác nhau đe dọa trực tiếp đến sức khỏe của trẻ. 

Biến chứng trên tai – mũi – họng

Viêm tai giữa là biến chứng khá thường gặp ở trẻ em mắc sởi, ước tính có 1/10 trẻ sẽ gặp phải biến chứng này. Các biểu hiện thường gặp như đau tại, đi cầu phân lỏng nhiều lần, quấy khóc, nôn trớ… nếu không phát hiện sớm và điều trị kịp thời có thẻ gây điếc vĩnh viễn. 

Biến chứng đường hô hấp

Viêm thanh quản

– Giai đoạn sớm là do virus sởi: xuất hiện ở giai đoạn khởi phát, giai đoạn đầu của mọc ban thường mất theo ban, hay có viêm thanh khí phế quản (croup) giả, gây cơn khó thở do co thắt thanh quản.

– Giai đoạn muộn: do bội nhiễm (hay gặp do tụ cầu, liên cầu, phế cầu…), xuất hiện sau mọc ban. Diễn biến thường nặng: sốt cao vọt lên, ho ông ổng, khàn tiếng, khó thở, tím tái.

 Viêm phế quản

Thường do bội nhiễm, xuất hiện vào cuối thời kì mọc ban. Biểu hiện sốt lại, ho nhiều, nghe phổi có ran phế quản, bạch cầu tăng, neutro tăng, X quang có hình ảnh viêm phế quản.

 Viêm phế quản – phổi

Do bội nhiễm, thường xuất hiện muộn sau mọc ban. Biểu hiện nặng: sốt cao khó thở, khám phổi có ran phế quản và ra nổ. X quang có hình ảnh phế quản phế viêm (nốt mờ rải rác 2 phổi). Bạch cầu tăng, neutro tăng, thường là nguyên nhân gây tử vong trong bệnh sởi, nhất là ở trẻ nhỏ.

Biến chứng thần kinh

Viêm não – màng não – tủy cấp

Là biến chứng nguy hiểm gây tử vong và di chứng cao, hiếm gặp với tỷ lệ khoảng 1/1000 ca. Thường gặp ở trẻ lớn (tuổi đi học), vào tuần đầu của ban (ngày 3 – 6 khi phát ban). Khởi phát đột ngột, sốt cao vọt co giật, rối loạn ý thức: u ám – hôn mê, liệt nửa người hoặc 1 chi, liệt dây III, VII hay gặp hội chứng tháp – ngoại tháp, tiểu não, tiền đình…

– Viêm màng não kiểu thanh dịch (do virus).

– Viêm tủy: liệt 2 chi dưới, rối loạn cơ vòng với cơ chế: có 2 giả thuyết được cho là phản ứng dị ứng hoặc là phản ứng miễn dịch bệnh lí.

Viêm màng não

– Viêm màng não thanh dịch do virus sởi

– Viêm màng não mủ sau viêm tai do bội nhiễm.

Viêm não chất trắng bán cấp xơ hóa (Van bogaert)

Hay gặp ở tuổi 2 – 20 tuổi, xuất hiện muộn sau vài năm, điều này nói lên virus sởi có thể sống tiềm tàng nhiều năm trong cơ thể bệnh nhân có đáp ứng miễn dịch bất thường. Diễn biến bán cấp từ vài tháng đến 1 năm. Bệnh nhân có thể tử vong trong tình trạng tăng trương lực cơ và co cứng mất não.

Biến chứng trên tiêu hóa

Viêm niêm mạc miệng

– Lúc đầu do virus sởi, thường hết cùng với ban.

– Muộn thường do bội nhiễm

Cam mã tấu (viêm loét hoại tử miệng – noma)

Xuất hiện ở giai đoạn muộn, nguyên nhân do bội nhiễm xoắn khuẩn Vincent là một loại vi khuẩn hoại thư gây loét niêm mạc miệng, lan sâu rộng vào xương hàm gây hoại tử niêm mạc, viêm xương, rụng răng, hơi thở hôi thối.

Viêm ruột

Do bội nhiễm các loại vi khuẩn như shigella, E coli…

Biến chứng gây suy giảm miễn dịch

Hệ miễn dịch của trẻ bị suy yếu nên dễ mắc thêm các bệnh khác như lao, bạch hầu, ho gà…

Đặc biệt trẻ em sau khi mắc sởi có thể bị suy dinh dưỡng. Đối với phụ nữ mang thai, khi mắc sởi sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng và phải đối mặt với các nguy cơ như sảy thai, thai dị dạng, chết lưu, sinh non.

Bệnh sởi có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm nếu chủ quan, không điều trị kịp thời
Bệnh sởi có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm nếu chủ quan, không điều trị kịp thời

Cách điều trị và chăm sóc người mắc bệnh sởi

Hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, nguyên tắc chung trong điều trị sởi là cách ly nguồn bệnh; điều trị triệu chứng, nâng cao thể trạng và phòng chống biến chứng của bệnh.

Điều trị triệu chứng

– Vệ sinh thân thể hàng ngày cho trẻ, sát trùng mũi họng thường xuyên

– Sốt: dùng các biện pháp cơ học để hạ sốt như cho trẻ uống nhiều nước, đặc biệt oresol, cởi bỏ bớt quần áo, giữ nhiệt độ phòng thoáng mát, lau người cho trẻ bằng nước ấm…; dùng thuốc hạ sốt (paracetamol) khi trẻ sốt cao > 38,5 độ C.

– Tăng cường dinh dưỡng cho trẻ

– Bổ sung vitamin A với liều theo khuyến cáo để ngăn ngừa loét giác mạc

+ Trẻ 6-12 tháng tuổi: 100.000 đơn vị liều duy nhất.

+ Trẻ trên 12 tháng tuổi và người lớn: 200.000 đơn vị liều duy nhất.

+ Những trường hợp có biểu hiện bệnh về mắt do thiếu vitamin A: Lặp lại liều trên vào ngày 2 và ngày 28.

Điều trị biến chứng

– Nếu có biến chứng nhiễm khuẩn thì dùng kháng sinh thích hợp theo hướng dẫn của bác sĩ.

– Hạn chế truyền dịch nếu bệnh nhân có biến chứng viêm phổi, viêm não hoặc viêm cơ tim

– Trường hợp viêm màng não cấp tính cần tích cực điều trị hỗ trợ duy trì chức năng sống

Cách chăm sóc trẻ bị bệnh sởi

Không ít các ông bố, bà mẹ khi thấy con bị mắc sởi nói riêng và sốt phát ban nói chung liền kiêng hoàn toàn việc tắm rửa cho con, khiến trẻ bị ngứa ngáy, khó chịu, gãi xước các vết ban, gây nhiễm trùng. Còn có cháu bị mẹ kiêng ăn các chất dinh dưỡng, chỉ ăn cháo trắng khiến cơ thể bị suy dinh dưỡng, không có sức chống chọi với bệnh tật. Đây là quan niệm sai lầm, gây ảnh hưởng không tốt đến quá trình hồi phục sức khỏe cho trẻ. Trong quá trình chăm sóc trẻ mắc bệnh sởi cha mẹ cần chú ý: 

Thực hiện cách ly

– Ngay khi phát hiện bệnh cần thực hiện cách ly trẻ khỏi nơi đông người (cho trẻ nghỉ học, không đến khu vui chơi, siêu thị, rạp chiếu phim…); tránh cho trẻ tiếp xúc hay chơi chung với trẻ khác vì virus sởi có thể truyền từ trẻ bệnh sang trẻ lành qua nước bọt khi hắt hơi, ho hoặc tiếp xúc với virus gián tiếp qua đồ chơi, vật dụng…

– Trẻ em mắc sởi không được đến trường ít nhất 4 – 6 ngày sau khi phát ban. Bệnh nhân sởi ở trong bệnh viện phải được cách ly từ lúc khởi phát cho đến ngày thứ 4 sau khi phát ban để tránh lây sang bệnh nhân khác.

Vệ sinh

– Cho trẻ ở phòng thoáng khí, đủ ánh sáng nhưng không quá chói vì mắt trẻ nhạy cảm với ánh sáng. Thường xuyên dọn dẹp, vệ sinh phòng sạch sẽ. 

– Vệ sinh thân thể, răng miệng cho trẻ hàng ngày, giữ ấm khi trời lạnh. Tránh quan niệm kiêng nước, kiêng gió. 

– Nhỏ mũi, mắt bằng dung dịch nước muối sinh lý 0.9% hoặc dung dịch nhỏ mắt mũi từ 3 – 4 lần/ngày. 

– Cho trẻ ngủ đủ giấc, nghỉ ngơi nhiều hơn. 

– Bố mẹ hoặc người chăm sóc trẻ cần rửa tay thường xuyên bằng xà phòng trước và sau khi chăm sóc, tắm rửa, thay tã… cho trẻ để hạn chế nguy cơ lây nhiễm virus.

Dinh dưỡng

– Nếu trẻ còn bú thì vẫn cho bé bú sữa mẹ, nếu bé tiêu chảy thì cho bú nhiều hơn. 

– Ăn các thức ăn lỏng, dễ tiêu như cháo, súp… 

– Tăng cường dinh dưỡng, bổ sung các thức ăn giàu vitamin đặc biệt là vitamin A như cà rốt, bí đỏ, thịt bò, sữa, cá, trứng gà, các loại rau có màu xanh thẫm…

– Cho trẻ uống đủ nước, nước oresol hoặc nước hoa quả để bổ sung nước và điện giải. Khi trẻ tiêu chảy còn phải bổ sung nước hoặc cho bé bú nhiều hơn.

Dùng thuốc

– Chườm ấm cho trẻ bằng nước ấm để hạ sốt khi sốt nhẹ, nếu sốt cao > 38,5 độ C thì sử dụng thuốc hạ sốt (paracetamol) theo chỉ định của bác sĩ. 

– Các loại thuốc khác đặc biệt là thuốc kháng sinh chỉ sử dụng khi trẻ bị bội nhiễm như viêm phế quản, viêm phổi… Tuy nhiên, việc dùng thuốc phải tuyệt đối tuân thủ theo chỉ định của bác sĩ. 

Theo dõi

– Nếu bệnh nhân (đặc biệt là trẻ em) xuất hiện các dấu hiệu nặng như: Mệt, li bì, hoặc kích thích; bú kém hoặc bỏ bú. Sốt cao, ho nhiều, thở nhanh, khó thở. Hay ban đã bay hết nhưng vẫn còn sốt… Thì cần đưa ngay đến cơ sở y tế để thăm khám, xử trí kịp thời. 

– Luôn theo dõi nhiệt độ của con bằng nhiệt kế để kịp thời hạ sốt.

Dự phòng bệnh sởi

Sỏi là bệnh có tốc độ lây lan cực nhanh, dễ bùng phát thành dịch, không có thuốc điều trị đặc hiệu. Vì thế, để chống lại căn bệnh này thì chủ động dự phòng bệnh sởi bằng cách tiêm vacxin sớm, đầy đủ, đúng lịch là giải pháp đơn giản và hiệu quả nhất. 

Tiêm vắc xin phòng sởi

Vắc xin phòng sởi là vacxin rất hiệu quả trong việc phòng ngừa bệnh. Vắc xin phòng sởi có 2 loại: vắc xin dạng đơn hoặc dạng phối hợp Sởi – Quai bị – Rubella hoặc Sởi – Rubella. 

Cần thực hiện tiêm đủ 2 mũi theo khuyến cáo của ngành y tế: mũi 1 lúc trẻ 9 tháng tuổi và mũi 2 lúc 18 tháng tuổi. Sau khi tiêm mũi một, 85% trẻ 9 tháng tuổi và 95% trẻ trên 12 tháng tuổi miễn nhiễm với bệnh. Hầu hết những trường hợp không miễn dịch sau một liều đơn đều sẽ đạt miễn dịch sau mũi thứ hai. 

Tiêm vắc xin phòng sởi đúng theo khuyến cáo là cách phòng bệnh sởi hiệu quả nhất

Tìm hiểu các loại vắc xin phòng sởi

Hiện nay, tại Việt Nam đang lưu hành 3 loại vắc xin phòng sởi là: vắc xin sởi đơn MVVac của Việt Nam và vắc xin 3in1 kết hợp phòng 3 bệnh Sởi – Quai bị – Rubella MMR II của Mỹ và MMR của Ấn Độ.

Vắc-xin sởi đơn giá là vắc-xin sống giảm độc lực được sử dụng phổ biến ở Việt Nam giúp tạo miễn dịch chủ động phòng chống bệnh sởi cho trẻ em và cả người lớn. Vắc xin được sử dụng cho trẻ em dưới 5 tuổi nằm trong chương trình tiêm chủng mở rộng (TCMR), còn với đối tượng người lớn thì vắc-xin thường được dùng nhất để tiêm trong chiến dịch phòng chống sởi cho tất cả các đối tượng trong phạm vi của chiến dịch.

Vắc-xin phối hợp Sởi – Quai bị – Rubella là vắc-xin phối hợp và cũng là vắc-xin sống giảm độc lực giúp phòng chống cả 3 loại bệnh nguy hiểm là sởi, quai bị và rubella. Được sử dụng cho tất cả mọi người có nhu cầu sử dụng vắc-xin (tiêm dịch vụ) trừ phụ nữ mang thai. Lưu ý, phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ thì được khuyến cáo chủng ngừa vắc-xin sởi-quai bị-rubella trước ít nhất từ 1-3 tháng khi có ý định mang thai

Lịch tiêm chủng

Các loại vắc xin khác nhau thì lịch tiêm chủng cũng có sự khác nhau. 

Loại vắc xinĐối tượngLịch tiêm
Vắc xin sởi đơnMVVac (Việt Nam)
Trẻ em từ 9 tháng tuổi trở lên– Mũi 1: 9 tháng tuổi- Mũi 2: 12 tháng tuổi tiêm vắc xin phối hợp Sởi – Quai bị – Rubella (dịch vụ) hoặc tiêm vắc xin phối hợp Sởi – Rubella trong tiêm chủng mở rộng
Vắc xin phối hợp Sởi – Quai bị – Rubella
MMR ( Mỹ)
Trẻ từ 12 tháng tuổi và người lớn– Mũi 1: 12 tháng tuổi
– Mũi 2: 4 – 6 tuổi
Vắc xin phối hợp Sởi – Quai bị – Rubella
MMR (Ấn Độ)
Trẻ từ 12 tháng tuổi và người lớn– Mũi 1: 12 tháng tuổi
– Mũi 2: 4 – 6 tuổi

Những lưu ý khi tiêm vacxin phòng sởi

– Vắc xin MVVac hoặc MMR đều có thể tiêm kết hợp cùng các vắc xin khác nếu sau khi khám sức khỏe sàng lọc trẻ đủ điều kiện để tiêm. Khi 9 tháng tuổi, trẻ có thể tiêm kết hợp mũi sởi đơn cùng với mũi viêm não Nhật Bản; hoặc bé có thể tiêm cùng lúc mũi thủy đậu và mũi sởi – quai bị – rubella khi tròn 12 tháng tuổi. Các chuyên gia phân tích rằng việc tiêm gộp nhiều mũi vắc xin chỉ có lợi chứ không có hại, giúp trẻ phòng bệnh sớm, đúng lịch và đủ mũi.

– Đối với trường hợp trẻ đã từng mắc sởi được xét nghiệm huyết thanh tìm IgM kháng sởi và có kết quả xét nghiệm dương tính thì không cần phải tiêm vắc xin sởi nữa vì miễn dịch sởi sẽ kéo dài đến suốt đời. Nếu trẻ đã từng có những dấu hiệu của bệnh nhưng chưa xác định được nguyên nhân là do đâu thì tốt nhất bố mẹ nên cho trẻ tiêm phòng vắc xin sởi đầy đủ. Tuy nhiên, những trẻ đã từng mắc sởi thì việc tiêm vắc xin phối hợp Sởi-quai bị-rubella vẫn an toàn cho trẻ và rất cần thiết để trẻ được phòng 2 bệnh còn lại là quai bị và rubella.

– Trẻ đã từng bị phản ứng nghiêm trọng với lần tiêm sởi trước đó, phụ nữ đang trong giai đoạn mang thai, những trường hợp bị suy giảm miễn dịch bẩm sinh, người mắc bệnh AIDS được khuyến cáo không nên tiêm vắc xin sởi

Những điều mẹ cần biết khi đưa trẻ đi tiêm

– Mang theo phiếu hoặc sổ theo dõi tiêm chủng

– Đối chiếu từng điểm trong “Quy định về tiêm chủng” dán tại các điểm tiêm chủng với việc thực hành tiêm chủng của cán bộ y tế. Chỉ cho con em mình tiêm khi nhận thấy cán bộ y tế thực hiện đúng các quy định về tiêm chủng. 

– Các mẹ có trách nhiệm thông báo cho cán bộ y tế về tình trạng sức khỏe của trẻ như: đang ốm, sốt, sinh non, tiền sử dị ứng, có phản ứng mạnh với lần tiêm trước, tiền sử dị ứng của bố mẹ. 

– Yêu cầu cán bộ y tế thông báo về chủng loại, hạn sử dụng của vắc xin. Hướng dẫn theo dõi trẻ sau khi tiêm chủng.

– Theo dõi trẻ ít nhất 30 phút tại cơ sở tiêm chủng và tiếp tục theo dõi tại nhà ít nhất 24h đầu sau khi tiêm. 

– Đưa trẻ đến cơ sở y tế ngay khi trẻ sốt cao hay có các biểu hiện khác thường như quấy khóc kéo dài, bỏ bú, bú ít, tím tái, khó thở sau khi tiêm chủng. 

– Các vắc xin dùng trong chương trình tiêm chủng mở rộng không phải trả tiền. 

Vấn đề thường gặp sau tiêm vacxin sởi

Sau khi tiêm vắc xin phòng bệnh sởi, trẻ có thể gặp những phản ứng nhẹ, không kéo dài và không cần điều trị đặc biệt. Đó là sự đáp ứng miễn dịch của cơ thể như: 

• Tại chỗ tiêm: đau, đỏ, sưng

• Toàn thân: Sốt, nổi ban, ho và sổ mũi cũng có thể xảy ra ở một vài trẻ em.

Các triệu chứng này thường kéo dài từ 1 đến 3 ngày rồi tự khỏi mà không cần điều trị.

Phòng bệnh cá nhân

Nâng cao sức đề kháng của cơ thể bằng việc ăn uống đủ chất dinh dưỡng, bổ sung hợp lý các vitamin và chất khoáng, đặc biệt là vitamin A

– Đảm bảo vệ sinh cá nhân hàng ngày, rửa tay thường xuyên bằng xà phòng

– Thường xuyên vệ sinh đường mũi, họng, mắt hàng ngày bằng các dung dịch sát khuẩn thông thường đặc biệt là những người tiếp xúc gần với bệnh nhân (sống cùng nhà, người chăm sóc bệnh nhân,…)

– Tránh tối đa việc chùi tay lên mắt, mũi, miệng vì tay là ổ chứa của nhiều loại virus, vi khuẩn

– Hạn chế tiếp xúc với người mắc/nghi mắc bệnh. Khi phải tiếp xúc với người bệnh phải đeo khẩu trang y tế và các trang bị phòng hộ cá nhân.

– Không cho trẻ em dùng chung vật dụng cá nhân, đồ chơi hoặc đồ vật dễ bị ô nhiễm chất tiết mũi họng.

– Thường xuyên làm sạch đồ chơi, đồ vật bị nghi ngờ ô nhiễm dịch tiết mũi họng của bệnh nhân bằng xà phòng, hoặc các chất tẩy rửa thông thường với nước sạch.

–  Lau sàn nhà, nắm đấm cửa, lan can cầu thang, mặt bàn, ghế, khu vệ sinh chung hoặc bề mặt của đồ vật nghi ngờ bị ô nhiễm dịch tiết mũi họng của bệnh nhân bằng xà phòng, hoặc các chất tẩy rửa thông thường với nước sạch từ 1-2 lần/ngày.

Nâng cao sức đề kháng cho trẻ để phòng bệnh sởi với chế độ ăn đảm bảo dinh dưỡng, giàu vitamin A

Phòng bệnh cho cộng đồng

  Hạn chế tập trung đông người, hội họp, đặc biệt trong những phòng chật hẹp, thiếu không khí trong khu vực ổ dịch

– Không cho trẻ đến những chỗ tập trung đông người khi không cần thiết. Không cho trẻ tiếp xúc với trẻ ốm nói chung, đặc biệt không tiếp xúc với bệnh nhân sởi hoặc nghi mắc sởi. Không cho trẻ đến nơi đang có dịch, nơi có nguy cơ lây nhiễm cao

–  Khi có biểu hiện mắc bệnh cần đến ngay cơ sở y tế để được khám, điều trị và hướng dẫn cách ly y tế kịp thời.

– Vệ sinh thường xuyên, mở cửa sổ, cửa chính để ánh nắng chiếu vào và đảm bảo thông khí thoáng cho nhà ở, phòng học, nơi làm việc, phòng bệnh.

Phòng bệnh ở nhà trẻ, trường học:

– Tuyên truyền các biện pháp phòng chống sởi cho thầy, cô giáo và phụ huynh.

– Đảm bảo dinh dưỡng đầy đủ và hợp lý cho trẻ tại các bữa ăn ở lớp học

– Đảm bảo lớp học luôn thông thoáng, đầy đủ ánh sáng, vệ sinh lau chùi bàn ghế, dụng cụ học tập, đồ chơi hàng ngày.

– Khi phát hiện học sinh có dấu hiệu mắc sởi, cần thông báo ngay cho phụ huynh, phải cho học sinh nghỉ học để đi khám bệnh và điều trị đến khi khỏi bệnh.

Phòng ngừa lây nhiễm sởi ở cơ sở y tế

– Thiết lập khu vực riêng dành cho khám, điều trị bệnh sởi. Có biển cảnh báo và phân luồng khám chữa bệnh; thực hiện khám sàng lọc, phân loại bệnh nhân, khử khuẩn buồng bệnh và thường xuyên hướng dẫn người chăm sóc trẻ thực hiện các biện pháp phòng bệnh để hạn chế lây nhiễm chéo trong bệnh viện. Hướng dẫn và không để người nhà của bệnh nhân sởi tiếp xúc với người nhà của bệnh nhân mắc các bệnh khác.

– Cán bộ y tế phải thực hiện việc rửa tay sau mỗi lần tiếp xúc với bệnh nhân sởi, mang phương tiện phòng hộ thích hợp, khử tiệt khuẩn đúng dụng cụ.

– Bệnh nhi mắc bệnh sởi cần được nằm phòng riêng, không nằm chung với bệnh nhân mắc các bệnh khác.

– Phòng điều trị bệnh nhân sởi phải có xử lý không khí tốt: phòng phải thoáng khí, mở cửa sổ để đối lưu không khí, ở cách xa các phòng bệnh khác.

– Tiêm vắc xin dự phòng sởi cho cán bộ y tế

Dù dịch sởi đã được kiểm soát tốt trong vài chục năm nay nhưng không thể chủ quan với bệnh. Chủ động tìm hiểu kiến thức, tiêm phòng vắc xin theo đúng hướng dẫn, nâng cao sức khỏe… là giải pháp hiệu quả để đẩy lùi căn bệnh nguy hiểm này. 

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây